TRÍCH DẪN HAY

Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ HIỆU ỨNG LẬT SÁCH

1. HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

SÁNG TÁC CỦA HỌC SINH TH SAO ĐỎ

THƯ VIỆN THSĐ HÔM NAY CÓ GÌ NHỈ?

DẠY BÉ LÀM QUEN TOÁN HỌC

GỐC THIẾU NHI - VẦNG TRĂNG CỔ TÍCH

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Thành viên trực tuyến

    1 khách và 0 thành viên

    Ảnh ngẫu nhiên

    Screenshot_1309.png 35_Phieu_Bai_tap_cuoi_tuan_Mon_Toan_Lop_2_Bo_sach_Canh_dieu.jpg GiaoantrinhchieuMonToan2Hocki1Bosachcanhdieu.jpg KehoachbaidayDaoducLop3BosachKetnoitrithuc2022tieuhocvn.jpg TiengViet4KetnoiTuan5Bai9Tiet3LuyentuvacauDongtuTrang41.jpg ClipartKey_135275.png TiengViet4KetnoiTuan29Bai20Tiet12ChieungoaioTrang93.jpg Toan5KetnoiBai9LuyentapchungTiet3Trang31.jpg ClipartKey_191402.png TiengViet4KetnoiTuan7Bai16Tiet1va2TruocngayxaqueTrang66.jpg TiengViet3KetnoiTuan5Bai9DocDihocvuisaotrang43.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai6Tiet12DocNghesitrongTrang26.jpg TiengViet4KetnoiTuan3Bai5Tiet1DocthanlanxanhvatackeTrang23.jpg TiengViet3KetnoiTuan3Bai6Tiet1Doc_NhatkitapboiTrang26.jpg Motvaibienphaptochuctrochoihoctaptrongmondaoduclop2.jpg Thumbnail_Ca_chua.png

    💕💕 Sách được coi là chìa khóa vạn năng, là bí quyết thành công đối với mỗi con người💕💕

    GTS Phượng Hoàng với Thầy giáo Chu Văn An và nữ Tiến sĩ Nguyễn Thị Duệ

    https://www.youtube.com/watch?v=cGeS3iQYD9c

    Đường Bác Hồ đi cứu nước

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
    Ngày gửi: 19h:39' 04-04-2024
    Dung lượng: 1.5 MB
    Số lượt tải: 24
    Số lượt thích: 0 người
    https://thuviensach.vn

    Thông tin sách gốc
    Tác phẩm: Đường Bác Hồ đi cứu nước
    Tác giả:
    Nhà xuất bản: Thanh Niên
    Năm tác phẩm ra đời: 1975
    Số trang: 365 trang (in trên khổ giấy A5)

    https://thuviensach.vn

    Thông tin ebook
    Đội ngũ đánh máy: Như
    Hảo, alpah8x, kzak27,silence00,tulipviet,hhongxuan.
    Đội ngũ soát lỗi chính
    tả: dtpmai189,suongdem,hhongxuan,teddy_M,Lannua2003, 
    ngankhanh.tran.
    Thể loại: Văn học Sử
    Ngày hoàn thành: 17/10/2015
    Người chế bản: Zhiqiang
    Nguồn sách gốc: dangtuanpr
    Ebook này được thực hiện theo dự án “SỐ HÓA 1000 QUYỂN
    SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG” của diễn đàn TVE4U.ORG 


    https://thuviensach.vn

    Mục lục
    Lời tựa
    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC ​
    Hồ Chủ tịch hình ảnh dân tộc
    Làm bất cứ việc gì để sống và để đi ​
    Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam ​
    Sống, làm việc gian khổ để học tập và hoạt động ​
    Trong ngõ hẻm Công Poanh
    Ở Đại hội Tua
    Lời phát biểu tại đại hội Tua
    Gặp “con cáo già” thuộc địa
    Đến Tổ quốc xã hội chủ nghĩa đầu tiên
    Sáng lập Việt Nam Thanh niên cách mạng đồng chí Hội
    Trở về Tổ quốc cách mạng
    LỜI KÊU GỌI [8]
    "Vụ án" ở Hương Cảng
    Trở lại đất nước Xô viết.
    Trên đường về nước qua Trung Quốc.
    Từ Vân Nam – Tĩnh Tây về Pắc Bó
    Bị Quốc dân đảng Trung Quốc bắt
    Về Tân Trào
    Một thời đại mới của dân tộc

    https://thuviensach.vn

    Lời tựa
     Đường Bác Hồ đi cứu nước là một tập hợp các câu chuyện
    về con đường Bác Hồ đi cứu nước từ khi rời bến cảng nhà
    rồng cho đến lúc Bác về với cây đa Tân Trào. Đến với cuốn
    sách bạn sẽ thấy những ngày gian khổ của Bác và các đồng
    chí của mình khi tìm lối thoát cho dân tộc khỏi bị áp bức.
    Các câu chuyện được trình bày dung dị nhưng toát lên được
    tinh thần của vị cha già dân tộc.
    Một cuốn sách lịch sử nhưng không hề khô khan, bạn sẽ
    phải phì cười khi biết Bác và các đồng đội của mình tìm
    được một chỗ ẩn náu lý tưởng trong màn sương nhưng đến
    khi sương tan mới biết mình đang ở giữa cánh đồng lớn. Và
    còn rất nhiều những cậu chuyện khác không kém phần thú
    vị khác chờ đón bạn khám phá.

    https://thuviensach.vn

    ĐƯỜNG BÁC HỒ ĐI CỨU NƯỚC ​

    “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra
    Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người
    đã làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất
    nước ta”.
    Trích: “Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao
    động Việt Nam do đồng chí Lê Duẩn Bí thư thứ nhất, đọc tại
    lễ truy điệu trọng thể Hồ Chủ tịch”.

    Hồ Chủ tịch hình ảnh dân tộc
    “Bình sinh Hồ Chủ tịch là người rất giản dị, lão thực, vĩ nhân
    thật vĩ nhân bao giờ cũng giản dị lão thực. Đã cầu kỳ là
    thiếu bản lĩnh, cố làm trò để đánh lừa thiên hạ và hậu thế.
    Vua Nghiêu, vua Thuấn, Chúa Giê-du là những người giản
    dị, lão thực. Ông Lê-nin, ông Tôn Văn, thánh Găng-đi cũng
    là người giản dị lão thực. Bậc đại khoa hoặc đại văn hào
    cũng vậy. Trái lại Hít-le là một kẻ gian hung. Còn bên cạnh
    Hít-le, Mút-xô-li-ni chỉ là một thằng hề.
    Xem một đôi bức ảnh Hồ Chủ tịch, có người nói mắt Người
    có hai con ngươi, và tin rằng vì chỗ đó, Người là một ông
    thánh. Làm gì có chuyện hoang đường như thế! Mắt Hồ Chủ
    tịch cũng như mắt mọi người sáng hơn mắt mọi người nhiều
    lắm đã đành, nhưng sáng hơn vì Người biết nhìn, nên nhìn

    https://thuviensach.vn

    thấy những cái mọi người không nhìn thấy; hiện tại, tương
    lai, cái nhỏ, cái to.
    Hồ Chủ tịch là người Việt Nam, Việt Nam hơn Việt Nam nào
    hết. Ngót ba mươi năm bôn tẩu bốn phương trời, Người vẫn
    giữ thuần túy, phong độ, ngôn ngữ, tính tình của người Việt
    Nam. Ngôn ngữ của Người phong phú, ý vị như ngôn ngữ
    người dân quê Việt Nam; Người khéo dùng tục ngữ, hay nói
    ví, thường có lối châm biếm kín đáo và thú vị. Làm thơ,
    Người thích lối ca dao, vì ca dao là Việt Nam cũng như núi
    Tràng Sơn, hồ Hoàn Kiếm hay Đồng Tháp Mười vậy. Mấy
    mươi năm xa cách quê hương, Người không quên mùi vị
    những thức ăn đặc biệt Việt Nam như cà muối, dưa chua,
    tương ớt, và ngày thường bây giờ, Người vẫn ưa thích
    những thứ ấy. Ngay sau khi về nước, gặp Tết, Người không
    quên mừng tuổi đồng bào hàng xóm và quà bánh cho trẻ
    em, tuy chỉ có mấy đồng xu nhưng cũng bọc giấy hồng đơn
    cẩn thận, tiêm tất. Bình sinh như thế, đứng địa vị Chủ tịch
    chính phủ kháng chiến kêu gọi quốc dân, Người dùng những
    lời nói thống thiết đi sâu vào tâm hồn Việt Nam: “Nhiễu
    điều phủ lấy giá gương, người trong một nước thì thương
    nhau cùng”.
    Lối ăn ở của Hồ Chủ tịch giản dị như thế nào, chúng ta đã
    từng biết. Lúc ở chiến khu, Người sống chung với anh em
    trong một cơ quan, làm việc, học tập, ăn ở, sinh hoạt nhất
    nhất như anh em. Có những lúc vì gạo thiếu hay khí hậu
    nặng, cần ăn ít một chút Người cũng vui vẻ chịu đựng cùng
    anh em. Kể ra Người có chỗ được biệt đãi: Đó là bát nước
    cơm mà anh Lộc, đồng chí cấp dưỡng lành nghề và thân
    mến của chúng tôi lúc ấy, bao giờ cũng để dành riêng cho
    Người từ biên giới Cao Bằng cho đến Tân Trào, trước khi về

    https://thuviensach.vn

    Hà Nội. Ở Hà Nội Chủ tịch Chính phủ có phòng làm việc,
    phòng tiếp khách, nhiều khi chủ tọa những bữa tiệc long
    trọng, nhưng bình thường ngày hai bữa, Chủ tịch chính phủ
    cùng nhân viên đều ăn chung. Nhiều lần, vì đến quá trễ,
    thức ăn không còn gì Hồ Chủ tịch vẫn vui cười ăn đủ mấy
    bát cơm thường lệ.
    Người vẫn thích đi bộ, tắm sông, hút thuốc lá và thỉnh
    thoảng uống một ly rượu thuốc trong bữa cơm. Trước đây,
    Người đi bộ một ngày 50 cây số là thường và có thể đi như
    thế ngày nọ qua ngày kia. Lúc ở Côn Minh, sáng nào Người
    cũng đi bộ một vòng quanh thành phố. Ở Liễu Châu, mùa
    đông, một hôm tướng Trương Phát Khuê đi ngựa dạo buổi
    sớm gặp Người tắm trên sông, Trương tướng quân lấy làm
    lạ một người ở phương Nam Á Châu chịu rét giỏi đến thế. Ở
    Cao Bằng, có lúc cơ quan đóng tại một cái suối lớn vừa ở
    trong hang đá chảy ra, nước trong xanh biếc dưới bóng mát
    của rừng cây; Hồ Chủ tịch suốt ngày làm việc ở đó với cái
    bàn máy đánh chữ “Hét mét” luôn luôn đi theo Người từ
    năm 1938 đến khi về Hà Nội.
    Ở rừng, Hồ Chủ tịch chủ trương tránh ăn no, không ngủ
    trưa và hoạt động thân thể, buổi sáng thể dục, buổi chiều
    làm vườn, lúc cần đi vác củi cho đồng bào. Suốt trong thời
    gian ở thượng du Bắc Bộ, trước cuộc khởi nghĩa, nhiều ngày
    Người luôn tay nắn hòn đá bầu dục, cốt để luyện gân tay và
    hoạt động cơ thể. Người ít ưa dùng thuốc, chỉ có lúc nào
    sức cơ thể chống không nổi bệnh mới dùng. Ở Hà Nội, bác
    sĩ Tùng, bác sĩ Cẩn chuyên lo sức khỏe của Người nhưng
    không mấy khi Người phiền đến. Ở Pháp, anh em buộc bác
    sĩ Cưu ở bên cạnh Người nhưng rồi bác sĩ làm việc văn
    phòng nhiều hơn thầy thuốc. Sinh hoạt chiến khu thường

    https://thuviensach.vn

    cực lắm, có lần suốt mấy tháng mùa mưa Hồ Chủ tịch ở
    trong một cái hang chật hẹp ẩm thấp, ban đêm sâu bọ ở
    ngoài tràn vào. Lúc ấy vì cơ sở quần chúng kém, nên phải
    ẩn nấp trong hang cùng, và cũng vì cơ sở quần chúng kém,
    nên dẫu ẩn nấp trong hang cùng mà cũng không yên,
    thường vẫn phải chạy “cảnh báo”. Hễ có “cảnh báo” là phải
    mang hết đồ đạc chạy lánh đến một chỗ an toàn hơn. Lúc
    ấy Hồ Chủ tịch yếu, nhưng bất kỳ đêm ngày, hễ có tin địch
    là mấy phút sau Người đã sẵn sang trước anh em, tay xách
    bàn máy đánh chữ.
    Lúc đến Pháp, ngay hôm gặp đầu tiên, lối ăn ở giản dị của
    Hồ Chủ tịch làm cho kiều bào rất cảm động. Hôm ấy, tại Bia-rít, đại biểu kiều bào đến thăm Người, hồi hộp và sung
    sướng. Khách đông phòng khách không đủ ghế ngồi, giản dị
    Hồ Chủ tịch ngồi xuống sàn và mời mọi người ngồi thế nói
    chuyện. Đây không phải vị Chủ tịch chính phủ, đây là cha
    già của dân tộc ân cần và thân mật hỏi thăm đàn con bao
    năm lưu lạc ở quê người.
    Hồ Chủ tịch, người giản dị ấy, cũng là người lịch sự một
    cách thanh tao cao quí và mọi người ngoại quốc có dịp tiếp
    chuyện Người đều ca ngợi cái phong độ thanh tao cao quí
    mà họ cho là đặc sắc của phương Đông. Ở chiến khu, trong
    cơ quan, Hồ Chủ tịch thường mặc một bộ đồ xanh, chân đi
    đất; về Hà Nội, Người mặc một bộ đồ kaki, chân đi giầy vải.
    Nhưng sang Pháp thì Người mang giầy da và mặc một bộ
    đồ nỉ, cổ đứng. Ở Ba-lê có ngày Hồ Chủ tịch tiếp luôn ba
    bữa cơm khách, bữa sáng với bạn thân, bữa trưa với khách
    thường, bữa tối với khách đặc biệt, mỗi bữa có khi kéo dài
    ba tiếng đồng hồ, nhưng Hồ Chủ tịch thủy chung vẫn ân
    cần niềm nở.

    https://thuviensach.vn

    Hồ Chủ tịch rất vui tính, vì vốn có cái tính lạc quan của
    những người quyết chiến quyết thắng ngày nay và quyết
    tâm xây đắp đời sống tốt đẹp cho dân tộc ngày mai. Trong
    những bữa cơm, tiệc trà thân mật giữa nhân viên cao cấp
    chính phủ, Hồ Chủ tịch vui thú, nói chuyện, làm thơ, khôi
    hài. Một đôi khi, Người thoạt đến những buổi dạ hội tưng
    bừng ở nhà Hát lớn Hà Nội, các cháu thiếu nhi quây quần
    lại, nhưng một lát sau, Người nhẹ bước biến đi đâu mất.
    Người thích hoa và có kể câu chuyện ở Nga cũng như ở các
    nước Âu Mỹ, người ta dùng phi cơ chở các thứ hoa ở xa về
    để trang điểm đời sống hang ngày cả đô thị lớn. Nhưng
    trong vườn hoa Chủ tịch phủ, hoa ngày càng nhường chỗ
    cho khoai, bắp. Gần Côn Minh, có núi Tây Sơn, một thắng
    cảnh có tiếng; một hôm anh em muốn đi xem, Hồ Chủ tịch
    bảo: “Nếu tiện lắm sẽ hay; chúng ta là người cách mạng
    chứ không phải kẻ du lịch.”
    Đời sống Hồ Chủ tịch là một đời sống khắc khổ, cần lao và
    tranh đấu. Người lãnh tụ của một dân tộc mất nước không
    thể có một đời sống khác. Phải khắc khổ, cần lao và tranh
    đấu để mưu cầu hạnh phúc ngày mai. Có người e đời sống
    nghiêm khắc ấy không còn chỗ cho tình cảm. Nhưng chính
    Hồ Chủ tịch thường nói người cách mạng là người rất giàu
    tình cảm, và vì giàu tình cảm nên làm cách mạng. Người
    mà cả dân tộc tôn làm vị cha già của mình phải có lòng
    thương mênh mông xúc động đến tâm can của mọi người.
    Trong thời kỳ bí mật, phút mặc niệm chiến sĩ cách mạng là
    lúc Hồ Chủ tịch rơi nước mắt. Tại Quốc Hội Hồ Chủ tịch vừa
    khóc vừa ôm hôn anh Nguyễn Văn Tạo sau khi anh đọc một
    bài diễn văn thống thiết về Nam Bộ.

    https://thuviensach.vn

    Người xưa nói: Có việc phải lo, lo trước thiên hạ, có việc
    đáng vui vui sau thiên hạ, Hồ Chủ tịch nói một cách giản dị
    và thống thiết hơn: “Một ngày đồng bào còn chịu khổ là
    một ngày tôi ăn không ngon; ngủ không yên.”
    Câu nói đó đã bộc lộ tâm trạng Người, mối tình cảm ruột
    thịt bao bọc trăm họ của đại gia đình Việt Nam.
    Đối với người giản dị và lão thực ấy một câu nói là một việc
    làm và có làm thì mới nói. Giản dị và lão thực trong sự ăn
    ở, tính tình, trong lời nói, viết. Người cũng giản dị và lão
    thực trong chủ trương chính trị nữa. Dân tộc Việt Nam bây
    giờ muốn gì? Muốn thống nhất, độc lập, muốn no ấm, muốn
    biết chữ, muốn đời sống bớt tối tăm. Cho nên Hồ Chủ tịch
    chủ trương: đoàn kết kháng chiến, tăng gia sản xuất, bình
    dân học vụ, đời sống mới. Dân tộc Việt Nam quyết tâm và
    mỗi ngày tiến mạnh trên con đường sống còn sau lưng Hồ
    Chủ tịch.
    Hồ Chủ tịch thật là hiện thân của dân tộc Việt Nam và mọi
    người Việt Nam đều thấy mình trong Hồ Chủ tịch.
    Sức mạnh của Hồ Chủ tịch và sức mạnh của dân tộc Việt
    Nam là ở chỗ đoàn kết thống nhất ấy…”

    Tháng 8-1948 PHẠM VĂN ĐỒNG

    (Trích bài “Hồ Chủ tịch hình ảnh dân tộc”; in trong cuốn: Hồ
    Chủ tịch lãnh tụ của chúng ta, Nhà xuất bản Sự thật, Hà
    Nội, năm 1967).

    https://thuviensach.vn

    Làm bất cứ việc gì để sống và để đi ​
    “Khi Chủ tịch Hồ Chí Minh còn là người thiếu niên 15 tuổi.
    Người thiếu niên ấy đã sớm hiểu biết và rất đau xót trước
    cảnh thống khổ của đồng bào. Lúc bấy giờ, Anh đã có chí
    đuổi thực dân Pháp, giải phóng đồng bào. Anh đã tham gia
    công tác bí mật, nhận công việc liên lạc. Anh khâm phục
    các cụ Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám, Phan Chu Trinh
    và Phan Bội Châu, nhưng không hoàn toàn tán thành cách
    làm của một người nào. Vì:
    Cụ Phan Chu Trinh chỉ yêu cầu người Pháp thực hiện cải
    lương. Anh nhận điều đó là sai lầm, chẳng khác gì đến xin
    giặc rủ lòng thương.
    Cụ Phan Bội Châu hy vọng Nhật giúp đỡ để đuổi Pháp. Điều
    đó rất nguy hiểm, chẳng khác gì “đưa hổ cửa trước, rước
    beo cửa sau”.
    Cụ Hoàng Hoa Thám còn thực tế hơn, vì trực tiếp đấu tranh
    chống Pháp. Nhưng theo lời người ta kể thì cụ còn nặng cốt
    cách phong kiến.
    Anh thấy rõ và quyết định con đường nên đi. Cụ Phan Bội
    Châu vào bậc chú của Anh. Cụ Phan Bội Châu muốn đưa
    anh và một số thanh niên sang Nhật. Nhưng Anh không đi.
    Anh muốn làm gì?
    Một vị trí thức ở Sài Gòn kể lại cho tôi:
    “Trong khi còn học ở trường Chasseloup-Laubat, tôi gặp
    một người thanh niên ở Trung Bộ vào Sài Gòn, ở nhà một
    người bạn. Vì cùng một lứa tuổi, cho nên chúng tôi lập tức

    https://thuviensach.vn

    trở nên đôi bạn thân. Tôi đưa anh đến trước tiệm cà phê
    của Pháp xem đèn điện, xem chiếu bóng và máy nước.
    Những cái đó, trước kia anh chưa hề thấy.
    Một hôm tôi mời anh ăn kem. Anh rất lạ. Lần đầu tiên anh
    mới nếm mùi kem.
    Sau ít hôm, anh đột nhiên hỏi tôi: “Anh Lê, anh có yêu nước
    không.”
    Tôi ngạc nhiên và đáp: “Tất nhiên là có chứ!”
    - Anh có thể giữ bí mật không?
    - Có
    - Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác.
    Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp
    đồng bào chúng ta. Nhưng nếu đi một mình, thật ra cũng
    có điều mạo hiểm, vì như khi đau ốm… Anh muốn đi với tôi
    không?
    - Nhưng bạn ơi, chúng ta lấy đâu ra tiền mà đi?
    - Đây, tiền đây.- Anh bạn của tôi vừa nói vừa giơ hai bàn
    tay. – Chúng ta sẽ làm việc. Chúng ta sẽ làm bất cứ việc gì
    để sống và để đi. Thế thì anh cùng đi với tôi chứ?
    Bị lôi cuốn vì lòng hăng hái của anh, tôi đồng ý.
    Nhưng sau khi suy nghĩ kỹ về cuộc phiêu lưu, tôi không có
    đủ can đảm để giữ lời hứa.
    Vài ngày sau, tôi không gặp lại anh bạn nữa. Tôi đoán là
    anh ta đã đi ngoại quốc. Anh ta đi bằng cách nào? Tôi

    https://thuviensach.vn

    không biết. Về sau, tôi chỉ biết người thanh niên yêu nước
    đầy nhiệt huyết ấy là cụ Nguyễn Ái Quốc, là Hồ Chủ tịch
    của chúng ta ngày nay.
    Chính ông Mai ở Hải Phòng, nhân viên cũ trên một chiếc tàu
    Pháp của hãng “Vận tải hợp nhất” đã cho chúng tôi biết
    những điều mà ông Lê không rõ.
    Ông Mai kể lại:
    Vào khoảng giữa năm 1911 hay 1912 – Tôi không nhớ đúng
    nữa – tôi làm việc ở phòng ăn của các sĩ quan trên tàu. Tàu
    chúng tôi cập bến Sài Gòn để lấy hàng và đón khách.
    Một buổi trưa, một người trai trẻ lên tàu. Sau một phút
    ngập ngừng anh ta hỏi xin việc.
    Chúng tôi trả lời là không có việc gì và có chăng nữa, chúng
    tôi cũng không có quyền nhận anh ta.
    Chúng tôi cười vì chàng trai có vẻ một anh học trò không
    phải là người lao động như chúng tôi. Chúng tôi nói nhỏ với
    nhau: “Một người như thế có thể làm công việc gì trên tàu?”
    Tôi không hiểu tại sao tôi thấy thương hại anh ta và tôi nói:
    “Đi theo tôi, tôi sẽ dẫn anh đến gặp chủ tàu. Có lẽ ông ta sẽ
    có việc cho anh làm”.
    Chủ tàu hỏi: “Anh có thể làm việc gì?”
    - Tôi có thể làm bất cứ việc gì! Chàng trai trả lời.
    - Được, ta sẽ lấy anh làm phụ bếp. Sáng mai anh đến đây
    nhận việc.

    https://thuviensach.vn

    Chàng trai ấy xưng tên là Ba. Vì tôi đã giúp anh ta việc nhỏ
    ấy, cho nên anh ta rất thân với tôi, và cũng vì anh ta rất dễ
    yêu nên tôi cũng rất thân với anh ấy. Việc gì tôi làm được là
    tôi cố làm để giúp anh ta, vì anh ta chưa biết làm gì cả. Vả
    lại, anh ấy có can đảm và nhẫn nại. Phụ bếp trên tàu, mỗi
    ngày anh ta phải làm: từ bốn giờ sáng, quét dọn sạch sẽ
    nhà bếp lớn trên tàu, rồi đốt lửa trong các lò. Sau đó đi
    khuân than, rồi xuống hầm lấy rau, thịt, cá, nước đá v.v…
    Công việc khá nặng nhọc vì dưới bếp rất nóng và trong hầm
    rất rét, nhất là khi vừa phải vác một bao nặng vừa leo lên
    những bậc thang trong khi tàu tròng trành.
    Xong công việc ấy, phải dọn cho bọn chủ bếp Pháp ăn. Sau
    đấy, nhặt rau, rửa chảo nồi và đun lò lại. Công việc kéo dài
    suốt ngày.
    Nhà bếp lo ăn cho 7, 8 trăm người cả nhân viên và hành
    khách. Có nhiều cái chảo bằng đồng lớn và nặng quá đến
    nỗi anh Ba phải kéo lê trên sàn. Và những cái nồi cao quá
    anh phải leo lên ghế để chùi nồi. Luôn luôn nghe tiếng:
    - Ba, đem nước đây!
    - Ba, đem chảo đi!
    - Ba, thêm than chỗ này, thêm than chỗ kia!
    Suốt ngày, anh Ba dầm nước, hơi và mồ hôi, mình đầy bụi
    than. Người ta thấy anh Ba phải dùng hết tinh thần và sức
    lực để làm cho xong công việc. Và hơn nữa vì chưa quen
    việc, anh phải gọt xong đống củ cải và khoai tây. Anh
    không biết làm thế nào. Tôi dạy cho anh. Tôi còn nhớ một
    lần phải gọt măng tây. Đây là lần đầu tiên anh Ba thấy

    https://thuviensach.vn

    măng tây. Anh ta bắt đầu gọt trơ trụi, thì vừa lúc tôi đến.
    Tôi hối hả quẳng xuống bể tất cả măng đã gọt và tôi bầy
    cho anh ta phải làm như thế nào. Nhờ thế không xảy ra việc
    gì.
    Mỗi ngày, 9 giờ tối, công việc mới xong. Anh Ba mệt lử.
    Nhưng trong khi chúng tôi ngủ hoặc đánh bài, anh Ba đọc
    hay viết đến 11 giờ hoặc nửa đêm. Về thứ bậc anh Ba là
    người dưới chúng tôi, chúng tôi là những người có chức vị,
    còn anh Ba thì là người phụ bếp. Nhưng vì anh Ba hiểu biết
    - anh giúp những người bạn mù chữ của tôi viết thư về cho
    gia đình họ, và anh không bao giờ nói tục - vì vậy anh Ba
    được tất cả chúng tôi yêu mến.
    Một lần, dọc đường, anh Ba suýt chết đuối. Bể nổi sóng.
    Làn sóng to như những quả núi chồm lên đổ xuống. Hầu
    hết mọi người say sóng. Như mọi ngày, anh Ba đi lên đi
    xuống từ bếp xuống hầm. Không thể vác những rổ rau lên
    vai vì tàu tròng trành, anh phải buộc rổ rau vào dây sắt để
    kéo đi, chuyến thứ hai một ngọn sóng lớn thình lình phủ lên
    sàn tàu và cuốn xuống bể mọi vật trên sàn tàu. Cả những
    rổ rau và anh Ba nữa. Anh bị đẩy vào giữa cột buồm và dây
    xích, nhờ vậy mà thoát chết.
    Cái gì đối với anh Ba cũng mới, anh phải học tất cả. Ví dụ
    mới đầu anh không ăn được bánh mì và bơ. Ăn xúp thì anh
    dùng nỉa.
    Vài ngày sau tàu rời bến, có hai hành khách - hai người lính
    trẻ tuổi giải ngũ trở về Pháp. Tôi không hiểu tại sao hai anh
    này đã trở nên bạn thân của anh Ba. Họ giúp anh nhặt rau
    và buổi tối họ cho anh mượn những quyển sách nhỏ, dạy
    cho anh đọc và viết. Và anh Ba lại dạy họ học quốc ngữ và

    https://thuviensach.vn

    thỉnh thoảng dấm dúi cho họ một cốc cà phê. Anh nói với
    tôi với một vẻ ngạc nhiên: ”Anh Mai, cũng có những người
    Pháp tốt, anh ạ”.
    Hồi ấy, Bùi Quang Chiêu, kỹ sư canh nông vào làng Tây, đi
    tàu hạng nhất cùng với gia đình. Ông ta đưa con sang Pháp
    học. Trông thấy Ba, ông ta gọi anh lại và thân mật bảo:
    - “Tại sao con lại làm cái nghề khó nhọc này? Bỏ nghề này
    đi. Con nên chọn một nghề khác, danh giá hơn...”. Anh Ba
    lễ phép cảm ơn ông Chiêu, nhưng không nói đồng ý hay
    không.
    Đến Mạc-xây, chúng tôi lĩnh lương; mỗi nhân viên Việt Nam
    được từ 100 đến 200 quan, thêm vào đấy tiền thưởng của
    hành khách. Anh Ba là phụ bếp chỉ được 10 quan.
    Anh ta được ít lương, nhưng anh học được nhiều chuyện
    mới lạ. Coi tôi là bạn thân thiết nhất, anh ta nói với tôi tất
    cả những điều anh trông thấy và suy nghĩ.
    - “Ơ! Ở Pháp cũng có người nghèo như bên ta!”
    Trông thấy những gái điếm làm tiền trên tàu, Ba nói với tôi:
    - Tại sao người Pháp không “khai hóa” đồng bào của họ
    trước khi đi “khai hóa” chúng ta, sao thế anh Mai?
    Tàu điện đối với anh Ba là một chuyện kỳ lạ. Lần đầu tiên
    anh ta trông thấy những “cái nhà biết chạy” ấy. Cái gì cũng
    làm anh ta chú ý, vì cái gì đối với anh ta cũng mới cả. Luôn
    luôn anh ta nói:
    - “Lần đầu tiên, tôi mới thấy cái này…”

    https://thuviensach.vn

    Công việc trong ngày xong, tôi cho anh ta mượn bộ áo
    quần, và chúng tôi đi đến tiệm cà phê ở đường Ca-nơ-bia.
    Không cần phải nói, đây là lần đầu tiên anh ta vào tiệm cà
    phê và cũng là lần đầu tiên người Pháp gọi anh bằng “ông”.
    Sau những ngày đầu tiên ở Mạc-xây, anh Ba tóm tắt cảm
    tưởng của mình bằng mấy chữ:
    - Người Pháp ở Pháp tốt, lễ phép hơn người Pháp ở Đông
    Dương.
    Chúng tôi đi theo tàu lên Ha-vơ-rơ (Havre) để sửa chữa.
    Chúng tôi được đưa sang làm việc ở một chiếc tàu khác, trở
    về Đông Dương. Anh Ba không muốn trở về. Ông chủ tàu
    đem anh về nhà. Từ đấy, tôi không được tin tức gì của anh
    Ba nữa…
    Không bao giờ tôi đoán rằng người bạn nhỏ của tôi, người
    phụ bếp, anh Ba ngây thơ, siêng năng và ngoan ngoãn ấy,
    lại trở thành Chủ tịch Chính phủ ta, người xây dựng nên
    nước Cộng hòa chúng ta.
    ***
    Theo địa chỉ ông Mai mách, anh Trần, người cộng tác trẻ
    của tôi, đến gặp ông Dân ở Nha Trang. Đấy là những điều
    anh Trần ghi chép: Ông Dân 62 tuổi, chủ một cửa hàng nhỏ
    sạch sẽ và đông khách, nhà đông con. Ông ta tiếp tôi niềm
    nở và kể chuyện:
    “Tôi có hai con trai đi Vệ quốc quân và một con gái đi cứu
    thương. Nhà tôi còn ba con nữa: 22, 20 và 18 tuổi, đều là
    đoàn viên của Đoàn Thanh niên cứu quốc. Cả ba đứa đều
    muốn đi Vệ quốc quân. Khi nào Tổ quốc cần đến chúng nó,
    https://thuviensach.vn

    tôi sẵn sàng hiến con cho Tổ quốc. Có lẽ điều đó sẽ làm cho
    mẹ cháu buồn, nhưng đàn bà thì bao giờ chẳng thế. Tôi
    cũng nên nói để ông rõ là bà nhà tôi cũng là đoàn viên Phụ
    nữ cứu quốc. Còn tôi, thủ quỹ của Việt Minh địa phương. Cả
    gia đình tôi đều làm việc Nhà nước. Cả làng này đều thế. Ai
    cũng là Việt Minh. Việt Minh, Việt Nam, Việt Nam, Việt
    Minh. Không thể có Việt Nam mà không có Việt Minh”.
    Ông Dân có tài nói. Ông bắt chuyện này sang chuyện khác
    rất thần tình. Kéo ông về câu chuyện mà tôi đặc biệt chú ý
    không phải là dễ. Nhưng sau tôi đã thành công.
    - Có chứ, tôi còn nhớ anh Ba ấy. Chắc chắn tôi còn nhớ anh
    ta mặc dầu cách đây đã 30 năm.
    Tôi ở với ông chủ của tôi ở Xanh A-đơ-rét (Saint Adresse).
    Một ngoại ô của Ha-vơ-rơ. Một hôm, ông chủ già dẫn về
    một người trẻ tuổi, gầy yếu, quần áo lôi thôi nhưng có vẻ
    lanh lợi. Tên anh ta là Ba. Ở nước ngoài mà gặp được một
    người đồng hương, thì lập tức người ta dễ trở thành bạn
    thân. Chúng tôi cũng vậy.
    Chúng tôi ở một biệt thự, có vườn hoa. Ông chủ già khi
    rảnh việc thì ở câu lạc bộ thành phố. Bà chủ thường đến
    nhà người con gái, vợ một nhân viên của công ty. Một bà
    nấu bếp, một người tốt, nếu anh ta khéo nịnh thì bà ta cho
    anh ăn ngon, nhưng khi bà ta cáu thì như một mụ yêu tinh.
    Một cô sen xinh xinh hay làm dáng, có một “bà mẹ hay
    ốm”- “bà mẹ ốm” chính là một chàng thủy thủ. Để đi gặp
    tình nhân, chị ta lừa chúng tôi luôn và nói là đi thăm mẹ
    ốm. Trong nhà tất cả là 6 người.

    https://thuviensach.vn

    Đồ đồng đánh bóng, đồ đạc lau xong, bàn ghế sạch bụi, thế
    là ông chủ bà chủ bằng lòng và rất tốt, luôn luôn một điều
    “con” hai điều “con”. Nhưng phần lớn công việc do cô sen
    làm. Chị ta muốn cho chóng xong để đi gặp “bà mẹ ốm”.
    Vì vậy chúng tôi có rất nhiều thì giờ rảnh. Anh Ba dùng thì
    giờ, chăm bón hoa với người làm vườn hoặc giở những tờ
    báo có ảnh trong tủ sách ra xem. Sau khi đến được ba
    ngày, anh hỏi tôi: “Anh Dân, anh có biết viết chữ quốc ngữ
    không? ”. Tôi hơi thẹn nhưng trả lời thành thật : “Không, tôi
    không biết”. Anh Ba liền giảng giải và khuyến khích tôi học.
    Tôi làm theo lời anh. Anh Ba cũng thế. Anh học tiếng Pháp
    với cô sen. Ngày nay tôi đọc được và viết được chính là nhờ
    anh Ba. Để trả ơn, thỉnh thoảng tôi dẫn anh Ba đi xem
    chiếu bóng hoặc xem xiếc.
    Chúng tôi ở với nhau được độ một tháng. Một buổi chiều,
    người chủ già đi làm về, nói với anh Ba: “Có một chuyến
    tàu đi vòng quanh Châu Phi. Không có khách. Chỉ có hàng
    hóa. Anh có muốn nhận làm bồi cho các sĩ quan trên tàu ấy
    không? Họ không đông lắm đâu, và đều là những người tốt,
    anh sẽ thấy anh không đến nỗi vất vả ở trên tàu. Đồng ý
    chứ?”.
    Anh Ba vui vẻ nhận lời. Sau tôi nói với anh: “Ba ơi, khí hậu
    ở Châu Phi rất nóng, nóng hơn ở bên ta. Và một chiếc
    thuyền chở hàng rất tròng trành, rất dễ làm cho anh say
    sóng. Đi như thế anh dại dột lắm: Nhất là một thân một
    mình, bầu bạn không có…” Anh Ba nói với tôi: “Anh không
    nên nói như thế. Tôi là thanh niên, tôi khỏe, tôi chịu được
    khổ. Và tôi muốn đi xem các nước”. Ngay hôm sau anh Ba
    đáp thuyền đi, anh có viết thư cho tôi hai ba lần, kể cho tôi

    https://thuviensach.vn

    nghe vô số chuyện, nói đến người da đen, người Ả Rập, nói
    đến xứ Tê-nê-ri-pho, xứ Lit-bon, đến những con vẹt… Anh
    cũng cho biết là người nấu bếp trên tàu cũng là một đồng
    hương tên là Bốn…”
    Không để cho ông Dân nói hết câu, tôi hỏi: “Ông có biết
    ông Bốn ấy không?”.
    - Có, tôi biết. Tôi biết chắc chắn anh ta là một người ngớ
    ngẩn, có khi như là một người điên. Về già, anh ta trở nên
    khôn ngoan hơn. Anh ta làm việc như một con bò. Anh ta
    lĩnh được rất nhiều tiền. Nhưng mỗi lần tàu cập bến, anh ta
    tiêu sài trong hai ba ngày thì hết sạch số tiền kiếm được
    trong hai ba tháng. Chẳng bài bạc gì. Anh ta chỉ thích đi
    theo gái. Anh ta xấu như con quỷ. Nhưng anh ta bắt nhân
    tình với một cô gái nhẩy… và khi nào hết xu, chị chàng đuổi
    anh ra cửa.
    - Bây giờ anh ấy ở đâu?
    - Ông đến Quỳnh Lâm và hỏi Bốn sẹo thì ở đấy ai cũng biết.
    Bây giờ anh ta đã khôn ngoan hơn và được mọi người mến.
    Để kết luận cuộc phỏng vấn của tôi, tôi hỏi ông Dân:
    - Ông có biết anh Ba hiện nay thế nào không?
    - Không, tôi rất tiếc là không biết.
    - Ông có muốn tôi nói cho ông biết không?
    - Còn gì bằng nữa!

    https://thuviensach.vn

    - Ông quay lại xem, anh Ba ấy đây kìa. Tôi vừa nói vừa chỉ
    chân dung Hồ Chủ tịch treo trên bàn thờ giữa những bình
    hoa bình hương, đèn nến. Ông Dân quay đầu, mở to đôi
    mắt, há miệng gãi tai. Và ông bật lên như một cái lò xo và
    kêu:
    “Hồ Chủ tịch! Hồ Chủ tịch của chúng ta! A di đà phật!
    Nhưng làm sao anh biết? Anh nói thật đấy chứ? Ờ, ờ, lạ quá
    nhỉ. Hồ Chủ tịch là anh Ba ấy ngày xưa. Hay quá nhỉ! Tôi sẽ
    kể điều đó cho bà nhà tôi nghe, cho các cháu nghe. Chúng
    nó sẽ mừng biết mấy! Cha của chúng nó biết cụ Hồ ngày
    xưa…”.
    Tôi lại tìm đến ông Bốn. Tính tình ông Bốn hoàn toàn khác
    với ông Dân, và cũng không giống như anh Bốn trai trẻ mà
    ông Dân đã nói. Đấy là một ông già hơn 60 tuổi, hiền lành.
    Với một giọng nhè nhẹ, ông kể lại đời mình cho tôi nghe và
    những mối quan hệ giữa ông với anh Ba hồi ấy. Ông nói:
    “Lúc còn trẻ tôi đi vòng quanh thế giới làm nghề nấu bếp
    trên tàu. Tôi kiếm được rất nhiều tiền. Nhưng tôi không gửi
    một xu nhỏ về gia đình. Tôi chạy theo một cô gái nhảy, có
    bao nhiêu nướng hết.
    Tôi đi nhiều, nhưng tôi không thấy gì, không đọc gì. Tôi
    hoàn toàn dốt đặc, không biết đọc chẳng biết viết. Một lần
    đi trên một chiếc tàu nhỏ chở hàng, tôi có người bạn là một
    đồng hương trẻ tuổi, tên là Ba. Sau những giờ làm việc anh
    Ba viết và đọc sách. Chính anh đã khuyên tôi học chữ quốc
    ngữ. Anh Ba có một lối thuyết phục người rất giỏi. Nhờ
    những lời khuyên bảo và sự giúp đỡ của anh Ba, tôi trở nên
    một người khá.

    https://thuviensach.vn

    Chiếc tàu nhỏ rời Ha-vơ-rơ. Đỗ lại ở Tây Ban Nha, Bồ Đào
    Nha, An Giê Ri, Tuy Ni Di và những cửa bể Đông châu Phi
    cho đến Công Gô. Đến đâu anh Ba cũng để ý xem xét. Mỗi
    lần tàu cập bến, thế nào anh Ba cũng kiếm cách đi thăm
    thành phố. Khi trở về, anh có những ảnh và những hộp
    diêm đầy túi. Anh Ba thích thu thập những thứ ấy.
    Đến Da-ca, bể nổi sóng rất dữ. Tàu không thể vào bờ. Cũng
    không thể thả ca-nô xuống vì sóng rất to. Để liên lạc với
    tàu, bọn Pháp trên bờ bắt những người da đen phải bơi ra
    chiếc tàu. Một, hai, ba, bốn người da đen nhảy xuống nước.
    Người này đến người kia, họ bị sóng bể cuốn đi.
    Cảnh tượng ấy, mọi người coi là thường. Nhưng điều đó làm
    cho anh Ba hết sức cảm động, anh khóc. Ngạc nhiên tôi hỏi
    tại sao? Anh Ba buồn rầu trả lời tôi:
    “Những người Pháp ở Pháp phần nhiều là người tốt. Song
    những người Pháp thực dân rất hung ác, vô nhân đạo. Ở
    đâu chúng nó cũng thế. Ở ta, tôi cũng thấy chuyện như thế
    xảy ra ở Phan Rang. Bọn Pháp cười sặc sụa trong khi đồng
    bào ta chết đuối vì chúng nó. Đối với bọn thực dân tính
    mạng của người thuộc địa, da vàng hay da đen cũng không
    đáng một xu”.
    Chiếc tàu của chúng tôi chở rượu ngon của Boóc-đô và An
    Giê Ri cho những thuộc địa khác. Tất cả mọi người trên tàu
    dùng rượu đó. Vì rượu rất nhiều. Tôi đã trông thấy nhiều
    thủy thủ say rượu suốt chuyến tàu. Chỉ cần dùi một lỗ nhỏ
    vào thùng rượu, ấn một ống cao su nhỏ vào đấy, hút thật
    mạnh và để đầu ống kia vào một cái chai. Và như thế tha
    hồ mà uống. Nhưng anh Ba không bao giờ uống rượu và
    khuyên tôi không nên làm như thế.

    https://thuviensach.vn

    Anh Ba rất tốt với mọi người và không bao giờ cãi cọ với ai.
    Nhưng anh Ba hơi khác thường. Mỗi ngày, anh dậy thật sớm
    để xem mặt trời mọc. Và trong những đêm trăng, anh hầu
    như không ngủ, anh đi đi, lại lại trên tàu, ngắm trời ngắm
    bể. Chúng tôi đậu lại ở Tê-nê-ríp-pho vào lúc hoàng hôn. Bể
    lặng sóng, hòn đảo giống như một cái chụp đèn khổng lồ để
    trên mặt bể, phía trên lóng lánh, phía dưới xanh xanh. Chỉ
    có thế thôi. Mà anh Ba ngây người. Anh nhắc đi nhắc lại:
    “Bốn, anh nhìn kìa! Đẹp quá! Hùng vĩ quá!”
    Đến lúc trở về Ha-vơ-rơ. Nhớ lời khuyên của anh Ba, tôi
    không đến thăm cô gái nhảy nữa. Tôi còn đi một vài chuyến
    dành được ít tiền thì tôi trở về nước, mở một cửa hàng nhỏ,
    và lấy vợ. Nghĩ đến tình bạn giữa chúng tôi, tôi đã đặt tên
    cho đứa con đầu lòng của tôi là Ba, điều đó làm cho những
    người chung quanh lấy làm lạ. Việc đó đã cách đây 30 năm.
    Ngày giờ đi chóng quá”.
    Ông Bốn ngừng lại. Tôi hỏi tiếp:
    - Thế còn ông bạn Ba của ông, sau đấy đi đâu?
    - Ba cũng rời chiếc tàu, nói là đi Anh.
    - Tại sao đi Anh.
    - Ba nói để học tiếng Anh.
    - Thế ông có được tin tức của anh Ba không?
    - Có, hai ba lần gì đấy, anh Ba đã kể cho tôi nghe đã gặp ở
    Luân Đôn một người đồng hương tên là Nam.
    - Ông có biết ông Nam không?

    https://thuviensach.vn

    - Có, hầu hết chúng tôi biết nhau, vì chúng tôi đều ở cả
    trong tổ chức.
    - Tổ chức gì?
    - Trước kia là một hội kín, nhưng từ khi nước ta độc lập thì
    công khai. Chính là công đoàn hải ngoại.
    - Và từ bấy đến nay, anh Ba ấy không viết thư cho ông sao?
    - Rất tiếc là không. Vài năm sau, nghĩa là sau đại chiến thứ
    nhất, thỉnh thoảng một ông bạn lại đến nhà tôi đem theo
    một gói to tướng sách báo và nói với tôi:
    “Ông Ba nhờ ông giữ hộ những thứ này, trong vài ngày một
    người bạn tên là X, sẽ đến lấy”. Cứ thế kéo dài trong mấy
    năm. Nhưng từ khi cửa hàng của tôi bị người Pháp khám
    xét thì không thấy anh Ba gửi nữa.
    Được gặp anh Ba, thì nếu mất nửa gia tài , tôi cũng vui
    lòng.
    Ông Thanh, thư ký công đoàn thủy thủ Vinh, giới thiệu tôi
    với ông Nam. Sau khi chào hỏi, tôi đi ngay vào câu chuyện
    về anh Ba.
    Ông Nam là một người làm bánh rán có tiếng trong thành
    phố. Ông ta ở trong Ban chấp hành Công đoàn cứu quốc hải
    ngoại. Ông có 5 người con trai, hai người đi bộ đội và hai
    người vào tự vệ; người con thứ 5 học ở trường Đại học Hà
    Nội. Cô Nam, cô gái trẻ đẹp 18 xuân xanh và con út của
    ông bà Nam làm cứu thương.
    Ông Nam kể:

    https://thuviensach.vn

    “Trước tôi làm việc ở tiệm ăn Các-lơ-tông, một tiệm sang có
    tiếng ở Luân Đôn. Người làm bếp độ 100 người đủ các
    hạng. Có cả người Pháp, người Anh, người Đức, người Nga,
    người Châu Á và tôi là người Việt Nam. Chính ông Ét-cốpphi-e, ông vua đầu bếp, được huân chương danh dự, điều
    khiển nhà bếp. Về ông Ét-cốp-phi-e, có một chuyện đáng
    kể lại: Tài nấu bếp của ông ta, thế giới đều biết. Những chủ
    quán lớn nhất trên thế giới trả tiền rất nhiều để mời ông ta
    làm chủ bếp. Khi có những yến tiệc ...
     
    Gửi ý kiến

    “Sách là phép màu độc nhất và diệu kỳ trong đời thực” – Stephen King

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC SAO ĐỎ - CHÍ LINH - HẢI DƯƠNG !